Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Hé Lộ Tử Bạch Quyết

Từ khi Huyền Không Phi Tinh được Thẩm Trúc Nhưng viết sách và công bố rộng rãi thì người ta thường biết đến Tử Bạch Quyết. Tử Bạch Quyết gồm 2 quyền Thượng và Hạ và được viết ra vào đời Đường (618 – 907). Người đời chủ yếu chỉ biết là Tử Bạch Quyết viết về ý nghĩa của 81 kết hợp của các sao trong Cửu Tinh, thực ra đây là nội dung của quyển Hạ, tương đối dễ hiểu; ví dụ như cặp 1-4 thì là Nhất Tứ Đồng Cung chủ về học vấn….tốt xấu. Vì Thẩm Trúc Nhưng chỉ hiểu được quyển Hạ nên mới viết và trích dẫn từ đây ra là phần nhiều.

Tuy nhiên quyển Thượng mới nói về cách sử dụng, phi tinh, ai tinh bàn theo Tử Bạch tức là cách lập ai tinh khác hoàn toàn với cách của họ Thẩm cũng như cách phi lưu niên, lưu nguyệt, nhật, thời tinh không giống với cách phổ biến ngoài xã hội cũng như việc luận đoán các cung cũng khá đặc biệt. Tức là quyển Thượng mới thật sự ẩn chứa bí quyết của Huyền Không Phi Tinh mà ít nguoi biết đến hay hiểu thấu.

Xin hé lộ ra 2 bí quyết sử dụng Tử Bạch Quyết như sau trong việc luận đoán tốt xấu của các cung trong nhà:

Bí quyết thứ 1: Ví dụ nhà bạn hướng Bắc nhập trạch trong vận 8 thì sẽ lấy sao Cửu Tử nhập trung cung phi thuận theo Lường Thiên Xích. Bố trí ai tinh xong thì tùy theo ngũ hành sinh khắc tỷ hòa của của cửu tinh so với trung cung mà luận tốt xấu.

Bí quyết thứ 2: Nếu nhà bạn hướng Bắc muốn biết lưu niên tinh 2013 tác động đến cửa hướng Bắc ra sao thì phải lấy sao lưu niên chiếu đến hướng Bắc trong năm nay là sao Tham Lang nhập trung rồi phi theo Lường Thiên Xích.

Nếu là cao thủ thì chỉ cần nói như vậy là đủ hiểu rồi.


Âm Dương - Phong Thủy TPHCM

Dương nhẹ và trong nổi lên trên, Âm đục và nặng chìm xuống dưới. Ở nơi đồng bằng cần chọn nơi cao để ở; Ở nơi vùng cao cần chọn nơi thấp để ở.

Con người sống trong 1 căn nhà rất cần dương khí để sống khỏe mạnh, suy nghĩ lành mạnh, tích cực để làm việc, học tập. Do đó từ xưa cung điện hoàng đế được đặt tại nơi bình dương bằng phẳng nhưng lúc nào cũng chọn nơi cao hơn, xây dựng cho nền nhà cao hơn hẳn so với mặt đường. Đó là vì nhà ở cao đón dương khí nhiều thì người trong nhà đó mới có tư cách thanh cao, sang quý. Chỉ có nhà dân thường sống ở vùng quê ruộng đồng mới làm thấp bằng mặt đường mà thôi còn nhà quan quyền, địa chủ phú hộ luôn cố gắng làm cao để đón được nhiều dương khí hơn. Hiện nay bạn đi các cơ quan nhà nước như kho bạc, bộ công an, cục thuế…luôn được xây cao, nhiều bậc cao hơn hẳn so với mặt đường; còn khi đi tham quan Tử Câm Thành Bắc Kinh hay Cố Đô Huế thì muốn lên đến điện phải đi nhiều bậc thang lên rất cao.

Nếu như ở quá thấp thì con người chỉ đón nhận âm khí do đó ông bà xưa khuyên không nên nằm ngủ, sinh hoạt dưới nền đất vì sẽ dễ bị “hơi đất” bốc lên. Đó là vì âm khí nặng chìm xuống dưới hay nói 1 cách khoa học thì khí Oxy nhẹ nên nổi lên cao, khí Cacbonic nặng chìm xuống dưới mà con người sống cần dưỡng khí chứ nếu ngủ suốt đêm mà hít thở toàn thán khí thì khỏe làm sao đặng. Vậy nên những bạn sống trong những căn nhà trọ nhỏ xíu dành cho sinh viên hay công nhân thường không có giường mà phải trải chiếu nằm dưới đất thì rất khó có sức khỏe tốt; tốt nhất là nên nằm trên gác hay ít nhất kê nệm lò xo cao 1 gang cũng như máy tính laptop, đồ dùng điện tử không nên đặt dưới đất vì hơi ẩm đại diện cho khí âm cũng nằm dưới đất sẽ xâm nhập làm sét hỏng các vật kim loại.

Những ngôi nhà hiện nay nằm gần các cầu vượt mà có độ cao thấp hơn cầu hay thấp hơn mặt đường do đường nâng lên nhiều lần thì chẳng những là khi mưa gió thì bị nước tràn vào nhà mà nguy hiểm hơn là bao nhiêu âm khí tràn vào nhà, người trong nhà thường sẽ dễ bị biến chất về tính cách: bần tiện, tham lam, ác độc hay kinh tế tài lộc cũng suy kém đi, sức khỏe yếu dễ bị bệnh về đường hô hấp, xương cốt kém. Nếu bạn nào ở Thủ Đức thì nên để ý Siêu Thị Coopmart  Xa Lộ Hà Nội từ khi hoàn thành cầu vượt Xa Lộ Hà Nội thì tình hình kinh doanh ở đây thế nào.

Nhìn chung ở vùng đồng bằng thì nơi cao phát Quý, nơi thấp phát Phú nhưng nơi nào quá cao hay quá thấp thì lại xem là Thái Cực, tức quá Dương hay quá Âm; dĩ nhiên đều là nơi không tốt. Ở Sài Gòn thì nơi có độ cao nhất là nằm ở phía Bắc – Đông Bắc, một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình (quận 9). Thủ Đức – Q9 ngày xưa có chung tên là Thủ Đức; các thầy địa lý hay gọi đùa đây là vùng Thức Đủ. Nơi cao sơn thực địa thích hợp làm nhà thờ, chùa chiền vì người ở đây quá Quý nên chủ về phát triển tâm linh hơn là vật chất, thích đi tu, làm đạo sĩ nên vùng Thủ Đức, Hóc Môn từ xưa đến nay luôn là vùng có nhiều chùa chiền, là nơi tu ẩn của nhiều thầy bói, bùa ngải, địa lý. 

Đó cũng là lý do các bạn thấy những vùng núi cao luôn được chọn để xây những chùa, thiền viện như Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử, Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt, chùa Bà Chúa Xứ, chùa Bà Châu Đốc, Điện Bà Tây Ninh, Cao Đài Thánh Thất…vì con người những nơi này hướng thượng. Cũng vì nơi cao phát Quý nên Làng Đại Học Quốc Gia nên đặt ở đây vì các em Thức Đủ để học hành chứ, cũng như Văn Miếu Trấn Biên (biểu tượng của giáo dục) của miền Nam được đặt ở Biên Hòa, nơi tương đối cao mà lại được đặt ở gò cao nhất Biên Hòa là vùng Bửu Long. Cũng như vậy nếu bạn nhìn về Hóc Môn, Củ Chi nơi mệnh danh “Mười tám thôn vườn Trầu” hay “Đất thép thành đồng”; những nơi này con người có tính cách quyết liệt nên dễ đấu tranh cách mạng nhưng ít thành công trong kinh doanh, tài lộc; đó là phát Quý mà ít phát Phú. Các bạn nhìn xem, nghĩa trang thành phố hay nghĩa trang liệt sỹ thành phố được đặt ở đâu, có phải đều là Thủ Đức hay không?

Riêng vùng đất quá thấp thường chủ về Âm nhiều nên những vùng này con người dễ bần tiện, suy thoái đạo đức. Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m. 

Một trong những vùng thấy rõ nhất là Thanh Đa hay quận Bình Thạnh. Quận Bình Thạnh được thầy địa lý gọi là Thành Bịnh (miền Bắc gọi là Thành Bệnh), là vì nơi này trũng thấp, giao nhau của nhiều dòng sông, kênh dơ, lại chủ âm khí nhiều nên các nhà nghỉ, khách sạn, hớt tóc thanh nữ, massage, karaoke, nói chung là tệ nạn xã hội dính dáng đến nữ giới khá nhiều vì nữ là Âm; bao nhiêu năm nay báo chí viết khá nhiều vẫn không phá được tình trạng ở đây. 

Hay vùng Nhà Bè, Cần Giờ thì là nơi quá trũng thấp nên ở đây cũng thường phát sinh tệ nạn cờ bạc, con người ít thành đạt trong cuộc sống, dễ bị nghèo đói bần cùng. Nhưng bạn đừng nói vùng Phú Mỹ Hưng cũng là nơi như vậy nha, vùng này đã được cải tạo đất đai địa lý bởi tập đoàn Lawrence S.Ting khá nhiều nên phải xét nhiều điểm khác nữa chứ không giống Nhà Bè. Nói chung thì các vùng chủ về Âm thì chỉ nên chọn làm nơi nghỉ mát, du lịch, vui chơi chứ không nên chọn để ở vì ở lâu ngày thì con người dễ biến chất, ương hèn, lười nhác mà Thành Bịnh. Đó là nói chung chứ nếu bạn ở vùng Nhà Bè nhưng xây nhà cao hay ở chung cư thì lại khác.

Do đó không nên chọn ở nơi Thái Âm hay Thái Dương mà nên chọn ở nơi Âm Dương hòa hợp, tức đừng cao hay thấp quá so với mặt bằng chung. Vì chúng ta trong cuộc sống ai cũng cần Phú và Quý.

Lưu ý: Những nguyên lý nói trong bài này chỉ để giải thích cho dễ hiểu, việc áp dụng xét trong thực tế cần phải xét nhiều yếu tố khác chứ không chỉ đơn giản như vậy.

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Huyền Không Lục Pháp – Những Nghi Vấn



Huyền Không Lục Pháp – Những Nghi Vấn

Lời đầu: khi nghiên cứu phong thủy hay bất kỳ môn nào, chúng ta cần có tinh thần khoa học, dám nghiên cứu, dám tìm hiểu và đặt ra câu hỏi để xem xét nhiều mặt của vấn đề. Đừng chỉ chấp nhận những gì người khác nói với bạn như là chân lý.

Từ khi Huyền Không Phi Tinh được Thẩm Trúc Nhưng phơi bày thì toàn bộ giới phong thủy thế giới và đặc biệt ở Châu Á chuyển từ Tam Hợp sang nghiên cứu Tam Nguyên. Cho tới mãi những năm 90 thì ngay cả ở Đài Loan và Hồng Kong thì Phong Thủy Tam Nguyên cũng chưa phổ biến. Ở Đài Loan vào khoảng 1993 – 1995 thì có đến 90% thầy theo Tam Hợp. Ở Hongkong cũng tương tự.

Rồi làn sóng Huyền Không Phi Tinh nhanh chóng thành trào lưu, đến khoảng năm 2000 khi một đại sư ở Hongkong viết sách hé lộ về Huyền Không Đại Quái thì cả thế giới phong thủy bị cuốn theo làn sóng mới này. Đại diện tiêu biểu và nổi tiếng nhất về HKDQ là đại sư Tăng Tử Nam đến từ Đài Loan; ông nổi tiếng vì biết 3 pháp: Kỳ Môn Độn Giáp, Huyền Không Đại Quái và Tả Tử Pháp (Kỳ thực tả tử pháp là một môn riêng biệt chứ không phải như nhiều người gán ghép đây là phép biến hào, hoán tượng). Đến 2005 thì một lần nữa HKDQ lại xuống ngôi nhường chỗ cho Lục Pháp.

Huyền Không Lục Pháp có lai lịch từ bao giờ? Có thể nói Lục Pháp là phái đã được lưu truyền từ rất lâu qua hình thức anh em, dòng tộc, sư phụ đệ tử chứ chưa bao giờ được truyền thụ công khai phổ biến mãi cho đến vài năm gần đây.

Có phải sư tổ của Huyền Không Lục Pháp là Đàm Dưỡng Ngô? Nhiều người nhầm tưởng điểm này kỳ thực thì Lục Pháp tổn tại trước khi Đàm Dưỡng Ngô viết sách, ông chỉ là người được Lý Kiền Hư Đạo Trưởng chỉ dạy cho, sau đó ông bỏ 8 năm tiếp tục nghiên cứu tiếp trước khi viết sách về Lục Pháp. Chính là cuốn Huyền Không Bổn Nghĩa đã mang lại danh tiếng cho Đàm Dưỡng Ngô mãi mấy chục năm về sau (vì lúc này thì thế giới phong thủy hệt như sàn diễn catwalk: hết Tân Phong Thủy đến Phong Thủy Cảm Xạ Học, Bát Trạch, Phi Tinh thi nhau lần lượt ra trình diễn. Khi người ta thấy chán mode thì phải xuất hiện nhiều kiến thức bí truyền khác để thỏa mãn sự hiếu kỳ. Còn vào thời của Đàm Dưỡng Ngô thì thịnh hành lúc đó vẫn là Huyền Không Phi Tinh, chứ Lục Pháp thì nghe quá mới nên chưa ai tin). Nói cách khác nếu như Thẩm Trúc Nhưng vang danh vì đã hé lộ HKPT thì tiếng tăm của Đàm Dưỡng Ngô cũng tương tự, ông không sáng lập phái này nhưng vì hé lộ 1 chút trong sách nên mang tiếng tăm như người đời lầm tưởng.

Huyền Không Lục Pháp đến nay đã có nhiều thầy giảng dạy và từ đó cũng hé lộ kiến thức của nhiều dòng phái Lục Pháp khác nhau. Do đó Lục Pháp không phải chỉ có 1 dòng truyền thừa và không phải chỉ có 1 phương pháp, một lý luận như nhiều người nhầm. Một trong những tên tuổi khác của Lục Pháp là Đan Tử Kim mà ít người biết đến.

Một điều để bạn suy ngẫm: Tại sao Đàm Dưỡng Ngô lai tuyên bố Lục Pháp là đúng đắn, quay lại đả kích Phi Tinh trong khi trước đó ông viết sách, mở trường, giảng dạy rất nhiều đệ tử và rất nhiều đệ tử của ông sau này trở thành những thầy nổi tiếng về Phi Tinh?  Như vậy kiến thức Phi Tinh của ông được truyền thụ có điểm gì sai hay không?

                                              Những năm cuối đời thì Đàm Dưỡng Ngô bị mù và sống mai danh ẩn tích mà không ai còn hay biết gì về ông. Tại sao một đại sư nổi tiếng như vậy mà những năm cuối đời lại bị mù và sống mai danh ẩn tích? Có phải ông phát hiện Lục Pháp có điểm gì sai nhưng bản thân ông lại không thể tiếp tục tuyên bố công khai gì nữa vì lúc trước đã tuyên bố từ bỏ Phi Tinh mà quay sang Lục Pháp?

                                          Trong Huyền Không Bổn Nghĩa không có trích dẫn đoạn nào từ sách của Dương Quân Tùng mà chủ yếu dựa trên sách của Tưởng Đại Hồng. Trong khi toàn bộ 6 pháp mà Lục Pháp đề cao thực chất đều được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong các sách của Dương Quân Tùng. Có phải chăng Lý Kiền Hư Đạo Trưởng cố tình truyền dạy cho ông không đầy đủ nên sau đó ông phải bỏ 8 năm tiếp theo nghiên cứu nhưng vẫn vô tình chưa phát hiện ra?

Những nghi vấn chờ lời giải đáp và khi nghiên cứu Lục Pháp đừng quên lật ngược lại vấn đề. Không có ai làm chủ chân lý cả. 

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

Sleeping Child

Đúng ra ở đây chỉ nên bàn về phong thủy tuy nhiên hôm CN vừa rồi mình đi xem nhà cho một bạn; bạn đó có nói là lúc trẻ có bị sẩy 1 bé 3 tháng tuổi và hỏi mình liệu điều này có liên quan đến tốt xấu hay không. Khi ông  bà nội đi xem thầy thì tự nhiên bé nhập vào rồi nói là bố mẹ bỏ bé không quan tâm.
Lúc trước có 1 thời gian mình theo 1 tổ chức ngoại cảm nên có biết nhiều về vấn đề này nên mong muốn chia sẻ cho những người quan tâm. Phải khẳng định rằng chuyện này là tâm linh và không liên quan gì đến phong thủy.
Bé khi đã tượng thai trong bụng mẹ thì dù mới 1 ngày tuổi cũng đã hiểu biết chứ không phải như người ta nghĩ là khi sinh ra hoặc ít nhất vài ba tuổi thì mới có hiểu biết. Có nhiều bé khi mất đi, triệu hồn lên hỏi thì bé nói rằng lúc 1 tháng tuổi thì bé bị ông bố đá vào bụng mẹ nên mất (ông bố thuộc dạng khốn nạn nát rượu) mà câu chuyện này chỉ có bà mẹ biết nhưng không kể cho ai nghe, bé biết hết mọi chuyện xảy ra dù lúc đó vẫn chưa ra đời.
Do đó nếu bạn nào lỡ vô tình hay cố ý nạo phá hay sẩy thai thì cũng phải sớm lo cầu siêu cho các bé. Cầu siêu là đặt cho bé 1 tên rồi cầu siêu cho bé Nguyễn Thi C…siêu thoát. Việc cầu siêu ra sao thì thường là vào tháng 7 khi chùa tổ chức Trai Đàn Chẩn Tế Kỳ Siêu Bạt Độ hay có riêng lễ cầu siêu cho các bé, chỉ cần đến trình bày với chùa là được hướng dẫn. Riêng về các tôn giáo khác thì mình không biết có niềm tin và nghi lễ này hay không.
Ngoài ra nếu được thì nên thờ 1 trang riêng hoặc đặt bài vị trong chùa rồi bố mẹ thường xuyên vào chùa cúng cầu cho bé vong linh mau siêu thoát; với đồ cúng là bánh kẹo trẻ con, đồ chơi con nít.
Các bé khi mất đi thì tính tình vẫn còn trẻ con nên rất dễ làm nũng, hờn dỗi bố mẹ bỏ bê không quan tâm nhắc nhớ hay cúng kiến nên thường dễ phá bố mẹ làm ăn, công việc…không tốt. Cúng là để nhắc cho các bé biết tu tập mà siêu thoát không nên vấn vương thể xác và bố mẹ.
Những ai đã trót lỡ nạo phá hay dùng Postinor (VN là đứng số 1 thế giới về khoản này) thì nên ghi nhớ để từ nay tu tập công đức, cầu siêu cho bé. Những ai có ý định thì nên nhớ đây là “giết người” chứ không phải là bé 1 ngày tuổi là vẫn chưa có linh hồn hay thể xác mà chỉ là trứng và tinh trùng hợp với nhau.
Giết 1 người không có khả năng tự vệ, và đó là con của mình! Đó là tội ác nhưng không tòa án nào xét xử và thủ phạm vẫn hồn nhiên không biết mình phạm tội cho đến ngày ra hầu ở tòa thượng thẩm tối cao phía bên kia.

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Tâm ơi, em ở đâu để anh mãi đi tìm! (Tâm nhà chứ không phải cô nào tên Tâm)

Tâm nhà ơi, Mày nằm ở đâu?

Mấy hôm nay vào xem HKLS lúc đầu thấy HTH mở chủ đề PTLV dám “một mình chống lại mafia” mà thấy thương cảm giống như xem phim Ỷ Thiên Đồ Long Ký màn Trương Vô Kỵ đấu võ lâm lục đại môn phái. Thương cảm nhưng không có nghĩa là anh này giống Trương Vô Kỵ nha, chỉ khen chỗ can đảm "đem....bom đi đánh xứ người" thôi.

Tự nhiên trong các bài viết vô tình đề cập đến vấn đề tâm nhà làm nổi lên 1 cuộc náo loạn bên HKLS. Thì ra từ trước đến nay đọc các bài cao cấp như HK Đại Quái, Lục Pháp, Trung Châu Phái, Liên Thành Phái, Thanh Nang Kinh ….rất nhiều nhưng về nền móng căn bản thì mọi người không giống nhau. Vấn đề căn bản nhất đụng chạm đầu tiên khi một người mới học phong thủy bỗng trở thành vấn đề gay go nhất.

Tâm nhà ở đâu? Không thống nhất trong cách tìm tâm thì làm sao phân cung? Không phân cung được thì mọi lý thuyết phong thủy dù là đơn giản hay cao cấp đều không thể ứng dụng được. Vậy tìm tâm nhà ở đâu? Tâm hình học, tâm toán học, tìm theo Cảm Xạ, tìm theo âm dương hay tìm theo tâm linh như triệu thổ thần lên hỏi? Ai nói cũng có lý. Mà nếu vấn đề căn bản nhất không hiểu đúng thì việc thực hành phong thủy cao cấp có khác gì xây nhà cao tầng trên nền móng không vững; nếu khi gặp gió lớn thì sẽ đổ ngay.

Điều này làm tôi gợi nhớ đến tựa bộ phim hoạt hình của Mỹ: “Scooby Scooby Doo, Where are youooo?”, “Center of the House, where are youoooo?”.

Đôi khi việc bạn biết lý thuyết nào cao cấp tới cỡ nào không quan trọng bằng việc bạn thực hành đúng và đủ. Nếu bạn học theo phương pháp thực hành của các thầy Tam Nguyên truyền thống, không bao giờ bạn phải tự hỏi câu hỏi này. Việc các phương pháp nào luận dù có lý đến đâu, nghe khoa học đến đâu chưa hẳn là cách của phong thủy truyền thống. Remember, feng shui is not science and feng shui is not necessarily logical! Phong thủy không phải là khoa học và cũng không nhất thiết phải hợp lý.

Nói rõ hơn 1 chút: “Phân cung để định tâm” chứ không phải “Định Tâm để Phân Cung”. Chỉ nói đến đó thôi, ai hỏi sâu hơn (vd như bạn athaithai, senhong chẳng hạn) thì đành phải bắt chước Tưởng Đại Sư mà nói “ậm ừ, Thiên Cơ Bất Khả Lộ”, không thôi nói nhiều quá thì phải tối ngày giải thích, tranh luận mệt lắm; đó cũng là lý do chỉ viết trên đây mà không tranh luận trực tiếp trên diễn đàn HKLS. Ai tu nấy chứng, hữu duyên sẽ ngộ

Lục Pháp là câu trả lời.

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Bát Trạch Sơ Cấp & Ứng Dụng (1)

1.      Mệnh Quái

Mệnh Quái là khái niệm được sử dung trong Bát Trạch và Huyền Không Phi Tinh.

Theo Bát Trạch: mỗi con người khi sinh ra trong cùng 1 năm đó thì họ mang trong người một loại khí giống nhau và sẽ cùng phản ứng với 8 hướng trong vũ trụ theo 1 cách giống nhau.

VD: người nam sinh năm 1984 thì Mệnh Quái là Đoài. Tất cả những người nam cùng sinh ra trong năm 1984 thì vĩnh viễn đến suốt cuộc đời họ luôn mang Mệnh Quái là Đoài và không bao giờ thay đổi.

Lưu ý:       1. Cùng năm sinh nhưng nếu giới tính khác nhau thì Mệnh Quái thường là khác nhau, nhưng cũng có 1 số trường hợp giống nhau như người nam và nữ sinh năm 1925 thì cùng là Chấn.

2.      Nếu sinh sau ngày 5/2/1980 Dương Lịch thì mới xem là người đó sinh trong năm 1980. Còn nếu sinh trước ngày 5/2, ví dụ ngày 1/2 thì vẫn xem là sinh trong năm trước đó, trong ví dụ này là 1979.

Cách tính Mệnh Quái thì trình bày dài dòng nên xin phép không giải thích ở đây vì ….mình lười. Các bạn xem bảng dưới đây để biết mình thuộc Mệnh Quái nào.


CUNG BÁT TRẠCH
NĂM
TUỔI
CUNG
HÀNH
NAM
NỮ
1924
Giáp Tý
Tốn
Khôn
Kim +
1925
Ất Sửu
Chấn
Chấn
Kim -
1926
Bính Dần
Khôn
Tốn
Hỏa +
1927
Đinh Mão
Khảm
Cấn
Hỏa -
1928
Mậu Thìn
Ly
Càn
Mộc +
1929
Kỷ Tỵ
Cấn
Đoài
Mộc -
1930
Canh Ngọ
Đoài
Cấn
Thổ +
1931
Tân Mùi
Càn
Ly
Thổ -
1932
NhâmThân
Khôn
Khảm
Kim +
1933
Quý Dậu
Tốn
Khôn
Kim -
1934
GiápTuất
Chấn
Chấn
Hỏa +
1935
Ất Hợi
Khôn
Tốn
Hỏa -
1936
Bính Tý
Khảm
Cấn
Thủy +
1937
Đinh Sửu
Ly
Càn
Thủy -
1938
Mậu Dần
Cấn
Đoài
Thổ +
1939
Kỷ Mão
Đoài
Cấn
Thổ -
1940
Canhthìn
Càn
Ly
Kim +
1941
Tân Tỵ
Khôn
Khảm
Kim -
1942
Nhâm Ngọ
Tốn
Khôn
Mộc +
1943
Qúy Mùi
Chấn
Chấn
Mộc -
1944
GiápThân
Khôn
Tốn
Thủy +
1945
Ất Dậu
Khảm
Cấn
Thủy -
1946
BínhTuất
Ly
Càn
Thổ +
1947
Đinh hợi
Cấn
Đoài
Thổ -
1948
Mậu Tý
Đoài
Cấn
Hỏa +
1949
Kỷ Sửu
Càn
Ly
Hỏa -
1950
Canh Dần
Khôn
Khảm
Mộc +
1951
Tân Mão
Tốn
Khôn
Mộc -
1952
NhâmThìn
Chấn
Chấn
Thủy +
1953
Quý Tỵ
Khôn
Tốn
Thủy -
1954
Giáp Ngọ
Khảm
Cấn
Kim +
1955
Ất Mùi
Ly
Càn
Kim -
1956
Bính thân
Cấn
Đoài
Hỏa +
1957
Đinh Dậu
Đoài
Cấn
Hỏa -
1958
Mậu Tuất
Càn
Ly
Mộc +
1959
Kỷ Hợi
Khôn
Khảm
Mộc -
1960
Canh Tý
Tốn
Khôn
Thổ +
1961
Tân Sửu
Chấn
Chấn
Thổ -
1962
Nhâm Dần
Khôn
Tốn
Kim +
1963
Quý Mão
Khảm
Cấn
Kim -
1964
GiápThìn
Ly
Càn
Hỏa +
1965
Ất Tỵ
Cấn
Đoài
Hỏa -
1966
Bính Ngọ
Đoài
Cấn
Thủy +
1967
Đinh Mùi
Càn
Ly
Thủy -
1968
Mậu Thân
Khôn
Khảm
Thổ +
1969
Kỷ Dậu
Tốn
Khôn
Thổ -
1970
CanhTuất
Chấn
Chấn
Kim +
1971
Tân Hợi
Khôn
Tốn
Kim -
1972
Nhâm Tý
Khảm
Cấn
Mộc +
1973
Quý Sửu
Ly
Càn
Mộc -
1974
Giáp Dần
Cấn
Đoài
Thủy +
1975
Ất Mão
Đoài
Cấn
Thủy -
1976
BínhThìn
Càn
Ly
Thổ +
1977
Đinh Tỵ
Khôn
Khảm
Thổ -
1978
Mậu Ngọ
Tốn
Khôn
Hỏa +
1979
Kỷ Mùi
Chấn
Chấn
Hỏa -
1980
CanhThân
Khôn
Tốn
Mộc +
1981
Tân Dậu
Khảm
Cấn
Mộc -
1982
NhâmTuất
Ly
Càn
Thủy +
1983
Quý Hợi
Cấn
Đoài
Thủy -
1984
Giáp tý
Đoài
Cấn
Kim +
1985
Ất Sửu
Càn
Ly
Kim -
1986
Bính Dần
Khôn
Khảm
Hỏa +
1987
Đinh Mão
Tốn
Khôn
Hỏa -
1988
Mậu Thìn
Chấn
Chấn
Mộc +
1989
Kỷ Tỵ
Khôn
Tốn
Mộc -
1990
Canh Ngọ
Khảm
Cấn
Thổ +
1991
Tân Mùi
Ly
Càn
Thổ -
1992
NhâmThân
Cấn
Đoài
Kim +
1993
Quý Dậu
Đoài
Cấn
Kim -
1994
GiápTuất
Càn
Ly
Hỏa +
1995
Ất Hợi
Khôn
Khảm
Hỏa -
1996
Bính Tý
Tốn
Khôn
Thủy +
1997
Đinh Sửu
Chấn
Chấn
Thủy -
1998
Mậu Dần
Khôn
Tốn
Thổ +
1999
Kỷ Mão
Khảm
Cấn
Thổ -
2000
Canhthìn
Ly
Càn
Kim +
2001
Tân Tỵ
Cấn
Đoài
Kim -
2002
Nhâm Ngọ
Đoài
Cấn
Mộc +
2003
Qúy Mùi
Càn
Ly
Mộc -
2004
GiápThân
Khôn
Khảm
Thủy +
2005
Ất Dậu
Tốn
Khôn
Thủy -
2006
BínhTuất
Chấn
Chấn
Thổ +
2007
Đinh hợi
Khôn
Tốn
Thổ -
2008
Mậu Tý
Khảm
Cấn
Hỏa +
2009
Kỷ Sửu
Ly
Càn
Hỏa -
2010
Canh Dần
Cấn
Đoài
Mộc +
2011
Tân Mão
Đoài
Cấn
Mộc -
2012
NhâmThìn
Càn
Ly
Thủy +
2013
Quý Tỵ
Khôn
Khảm
Thủy -
2014
Giáp Ngọ
Tốn
Khôn
Kim +
2015
Ất Mùi
Chấn
Chấn
Kim -
2016
Bínhthân
Khôn
Tốn
Hỏa +
2017
Đinh Dậu
Khảm
Cấn
Hỏa -
2018
Mậu Tuất
Ly
Càn
Mộc +
2019
Kỷ Hợi
Cấn
Đoài
Mộc -
2020
Canh Tý
Đoài
Cấn
Thổ +
2021
Tân Sửu
Càn
Ly
Thổ -
2022
Nhâm Dần
Khôn
Khảm
Kim +
2023
Quý Mão
Tốn
Khôn
Kim -
2024
GiápThìn
Chấn
Chấn
Hỏa +
2025
Ất Tỵ
Khôn
Tốn
Hỏa -
2026
Bính Ngọ
Khảm
Cấn
Thủy +
2027
Đinh Mùi
Ly
Càn
Thủy -
2028
Mậu Thân
Cấn
Đoài
Thổ +
2029
Kỷ Dậu
Đoài
Cấn
Thổ -
2030
CanhTuất
Càn
Ly
Kim +
2031
Tân Hợi
Khôn
Khảm
Kim -
2032
Nhâm Tý
Tốn
Khôn
Mộc +
2033
Quý Sửu
Chấn
Chấn
Mộc -
2034
Giáp Dần
Khôn
Tốn
Thủy +
2035
Ất Mão
Khảm
Cấn
Thủy -
2036
BínhThìn
Ly
Càn
Thổ +
2037
Đinh Tỵ
Cấn
Đoài
Thổ -
2038
Mậu Ngọ
Đoài
Cấn
Hỏa +
2039
Kỷ Mùi
Càn
Ly
Hỏa -
2040
CanhThân
Khôn
Khảm
Mộc +
2041
Tân Dậu
Tốn
Khôn
Mộc -
2042
NhâmTuất
Chấn
Chấn
Thủy +
2043
Quý Hợi
Khôn
Tốn
Thủy -